|
DCS Black Shark - Cá mập đen (1 DVD)
Cập nhật: 24.04.2009 16:19
|
|
Ka-50 Black Shark “Cá mập đen”
Trực thăng tấn công Ka-50 “Cá mập đen”, được phát triển bởi Tổ hợp Công nghiệp cổ phần trực thăng Ka-mốp, được NATO gọi theo các ký hiệu Hokum A, Hokum B cho các loại một và hai người lái (Ka-52). Ka-50 còn được gọi là “Ma sói”. Truyền thống của “họ” nhà trực thăng Ka là không có cánh quạt nhỏ ở sau đuôi, mà dùng hai cánh quạt lớn đồng trục quay ngược chiều nhau.
Ka-50 là loại trực thăng có hiệu suất chiến đấu cao trong cả ban ngày lẫn ban đêm, tính thích nghi cao với mọi điều kiện chiến đấu, hoả lực mạnh để chống các mục tiêu trên không cũng như diệt xe tăng có trang bị vũ khí phòng không. Loại trực thăng này phục vụ trong quân đội Nga từ năm 1995 và được sản xuất tại Công ty phát triển hàng không Sa-dư-kin ở vùng biển Ác-xê-nhi-ép của Nga. Đợt đầu tiên có 8 chiếc Ka-50 được xuất xưởng. Đến nay, không quân Nga đã mua 12 chiếc trong những chương trình đặc biệt, nhưng đến năm 2005 thì ngân sách cho chương trình này bị cắt.
Mọi thông tin mật về loại trực thăng này đã được hoàn toàn giữ bí mật trong những năm 1970 – 1980. Tình báo Mỹ đã không thành công trong việc thu thập những thông tin về nó. Nhưng tình hình nhanh chóng thay đổi chỉ sau vài năm. Mọi người được chứng kiến loại trực thăng mới khi nó được trình diễn lần đầu tiên tại Triển lãm máy bay Pa-ri năm 1992.
Ka-50 Black Shark “Cá mập đen”
Trực thăng tấn công Ka-50 “Cá mập đen”, được phát triển bởi Tổ hợp Công
nghiệp cổ phần trực thăng Ka-mốp, được NATO gọi theo các ký hiệu Hokum
A, Hokum B cho các loại một và hai người lái (Ka-52). Ka-50 còn được
gọi là “Ma sói”. Truyền thống của “họ” nhà trực thăng Ka là không có
cánh quạt nhỏ ở sau đuôi, mà dùng hai cánh quạt lớn đồng trục quay
ngược chiều nhau.
Ka-50 là loại trực thăng có hiệu suất chiến đấu cao trong cả ban ngày
lẫn ban đêm, tính thích nghi cao với mọi điều kiện chiến đấu, hoả lực
mạnh để chống các mục tiêu trên không cũng như diệt xe tăng có trang bị
vũ khí phòng không. Loại trực thăng này phục vụ trong quân đội Nga từ
năm 1995 và được sản xuất tại Công ty phát triển hàng không Sa-dư-kin ở
vùng biển Ác-xê-nhi-ép của Nga. Đợt đầu tiên có 8 chiếc Ka-50 được xuất
xưởng. Đến nay, không quân Nga đã mua 12 chiếc trong những chương trình
đặc biệt, nhưng đến năm 2005 thì ngân sách cho chương trình này bị cắt.
Mọi thông tin mật về loại trực thăng này đã được hoàn toàn giữ bí mật
trong những năm 1970 – 1980. Tình báo Mỹ đã không thành công trong việc
thu thập những thông tin về nó. Nhưng tình hình nhanh chóng thay đổi
chỉ sau vài năm. Mọi người được chứng kiến loại trực thăng mới khi nó
được trình diễn lần đầu tiên tại Triển lãm máy bay Pa-ri năm 1992.
Ka-50-2 Erdogan
Kiểu tấn công ban đêm Ka-50N, với hệ thống quan sát ban đêm dùng nhiệt,
dò đường bằng la-de Samshit-50T được phát triển và chiếc Ka-mốp thâm
nhập được vào Công nghiệp hàng không I-xra-en (IAI) để được sản xuất
thành một kiểu mới Ka-50-2 Erdogan, phù hợp để trang bị các vũ khí của
NATO và buồng lái của I-xra-en. Thực ra, lúc đầu đây là một sự kết hợp
giữa công nghiệp hàng không của Nga và I-xra-en để đáp ứng yêu cầu của
Không lực Thổ-Nhĩ-Kỳ. Đây là kiểu hai người lái ngồi trước – sau.
Ka-52 Alligator “Cá sấu Mỹ”
Thắng lợi của các hoạt động mặt đất trong các cuộc chiến tranh hiện
đại, nhất là những cuộc chiến tranh xảy ra gần đây đã chứng minh vai
trò yểm hộ quan trọng của lực lượng trực thăng lớn cho bộ đội mặt đất
và đồng thời, rất hiệu quả trong tìm và diệt xe tăng. Trực thăng Ka
cũng được thiết kế cho những mục đích như thế: được trang bị hệ thống
định vị và xác định mục tiêu, hỗ trợ quan sát cho phi công, hệ thống
thông tin liên lạc với trung tâm chỉ huy trên mặt đất. Trên trực thăng
Ka, phi công được hỗ trợ rất nhiều nên việc điều khiển máy bay trong
chiến đấu dễ dàng hơn.
Chiếc Ka-52 “Cá sấu Mỹ”, được thiết kế là loại trực thăng hoạt động
trong mọi thời tiết, do đó nó được thiết kế có hai người lái, giữ
nguyên các tính năng chiến đấu của Ka-50, cả về vũ khí. Phi công cùng
với các trang bị như quần áo và mũ bay cũng là những thiết bị hỗ trợ
kết hợp với các thiết bị lắp trên máy bay như hệ thống nhận biết mục
tiêu địch – ta, định vị mục tiêu trong cả ban ngày lẫn ban đêm trong
mọi điều kiện thời tiết.Tham gia vào dự án còn có các tổ hợp của Pháp:
Sextant và Thomson. Chiếc Ka-50 giữ được 85% cơ sở của Ka-50: sát-xi,
động cơ… Trực thăng cũng được trang bị hệ thống thoát hiểm cho phi
công. Chiếc Ka-52 cũng được sử dụng như trực thăng huấn luyện.
Ka-52 nặng hơn Ka-50 do đó làm thay đổi chút ít tính năng bay - kỹ -
chiến thuật của nó. Tuy nhiên, điều đó không ảnh hưởng quá lớn đến tổng
thể chiếc trực thăng.
Ngoài ra, chiếc Ka-52 khác “người tiền bối” của nó ở phần trước của
thân máy bay, hình dạng buồng lái và việc bố trí quan sát 360o vòng
quanh của phi công và hệ thống ngắm.
Mũ bay của phi công cũng có thiết bị quan sát và thông báo đặc biệt,
mọi thông tin của máy bay và các thông tin chiến trường khác được hiển
thị lên màn hình trong mũ bay trước mắt phi công – tương tự như những
mũ bay đang được Không quân Mỹ sử dụng, nhưng đơn giản, rẻ tiền hơn và
dùng lẫn được, hiệu quả không kém. Ở trên các máy bay trực thăng AH-64D
và AH-64D LongBow, mũ bay phức tạp, đắt tiền và không thể dùng lẫn,
nhưng hơn hiệu quả loại của AH-64A Apache.
Với những đặc điểm đó, chiếc Ka-52 là một trong những trực thăng hàng đầu.
Lịch sử phát triển
Việc phát triển nghiên cứu và sản xuất loại trực thăng này được bắt đầu
năm 1978 theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng Liên Xô có từ năm 1977. Tên
mật của mẫu V-80 được dùng cho đến tận năm 1992, khi tên Ka-50 được đặt
cho chiếc trực thăng mới của Ka-mốp. Nó được thiết kế cho các hoạt động
mặt đất chứ không phải trên biển như hầu hết các kiểu Ka-mốp trước đó
(Ka-25 và Ka-27). Mô hình tỷ lệ 1:1 đầu tiên được trình bày cho Bộ tổng
tham mưu Xô-viết tháng Năm năm 1980. Sau hai năm, ngày 17 tháng Sáu năm
1982 nó đã có chuyến bay đầu tiên. Trong thời gian đó tập thể thiết kế
của Công trình sư Mil cũng nỗ lực để cho ra chiếc Mil mới Mi-28 (Nay
được gọi là Havoc). Cả hai chiếc đều được tiến hành trong chương trình
thiết kế trực thăng thế hệ mới. Trong quá trình thử nghiệm so sánh,
Ka-50 tỏ ra trội hơn một chút. Điều đó làm cho việc thử nghiệm được
tiến hành làm đi làm lại đến ba lần, cho cùng một kết quả. Bộ quốc
phòng Liên Xô quyết định phát triển cả hai mẫu thiết kế.
Cả trực thăng chiến đấu Ka-50 lẫn AH-64A Apache của Mỹ đều được thiết
kế nhằm mục tiêu cho ra một chiếc trực thăng có thể chống được vũ khí
phong không của xe tăng, trở thành một “sát thủ diệt xe tăng” hữu hiệu.
Trang bị hệ thống dẫn đường tên lửa chống tăng hiện đại, Ka-50 có thể
hạ được xe tăng, các ổ phòng không và các mục tiêu phòng ngự khác từ
khoảng cách 6 ki-lô-mét. Những người thiết kế của Tổ hợp Ka-mốp định
thiết kế nó để dùng trong các nhiệm vụ chống các phương tiện thiết giáp
và cơ giới mới, hiện đại, diệt các mục tiêu trên không và bộ binh chủ
lực địch. Chiếc trực thăng hai cánh quạt đồng trục này có tính năng bay
hết sức hiệu quả và do đó, nó giúp cho phi công dễ dàng điều khiển, cơ
động trong chiến đấu. Nó có thể hành động thành công trong các tình
huống chiến đấu ban đêm cũng như ban ngày, trong mọi điều kiện thời
tiết đồng thời có khả năng tồn tại - tự bảo vệ cao trước vũ khí của đối
phương. Chiếc trực thăng vì thế được thử nghiệm trong những điều kiện
chiến đấu hết sức khắt khe. Với giá thành không quá cao như các loại
tương đương của NATO, chiếc Ka-50 là không có đối thủ về các tính năng
kỹ - chiến thuật.
Thiết bị điện tử:
Hệ thống bay tự động và hiển thị HUD (head-up display) giống trên
Mig-29. Bộ cảm biến hồng ngoại FLIR (forward-looking infrared) và ra-đa
dẫn đường…
Động cơ:
Chiếc Ka-50 được trang bị hai động cơ TV3-117VMA tua-bin, mỗi chiếc có thể phát động một công suất 2.200 ngựa.
Trang bị vũ khí:
Ka-50 có thể trang bị vũ khí cho chiến đấu trên mặt đất, cũng như các
hoạt động phối hợp với các hoạt động trên biển. Do đó tải trọng của máy
bay có thể cho phép nạp đến hai tấn vũ khí: tên lửa chống xe tăng,
rốc-két không đối không (không có dẫn đường) các cỡ, tên lửa không đối
không, pháo, bom và các loại vũ khí khác.
Trực thăng có đến bốn hệ thống treo phụ dưới cánh, có thể treo được
nhiều thứ vũ khí, đồng thời có thể treo được pháo 23mm hoặc thùng nhiên
liệu phụ. Ở chỗ này có thể treo được tới 12 tên lửa chống tăng siêu âm
Vichr, có thể tiêu diệt mục tiêu từ khoảng cách tới 8 ki-lô-mét. Sức
xuyên của loại tên lửa này hết sức lớn, có thể xuyên được thép dày tới
900mm.
Trực thăng Ka-50 còn được trang bị khai khẩu pháo bắn nhanh 30mm 2A42,
dùng để bắn mục tiêu cả trên không lẫn dưới đất, hai pháo này có 460
viên đạn hai dạng: đạn nổ và đạn xuyên, có thể lựa chọn trong chiến
đấu. Khối lượng của đạn là 0,39 ki-lô-gam/viên, sơ tốc 980 mét/giây và
có thể bắn từ khoảng cách 4 ki-lô-mét. Góc bắn của pháo từ 2 đến 4
ra-đi-an mét .
Động cơ tua-bin đồng trục của trực thăng cho phép nó đạt trần bay 4000
mét, tốc độ lên cao 10 mét/giây ở độ cao 2500 mét. Các cánh quạt được
làm bằng chất liệu pô-li-me, nhẹ và bền chắc. Kết cấu hai chong chóng
của trực thăng đã đảm bảo cho tính cân bằng của nó.
Hai động cơ được lắp trên hai vị trí cách xa nhau làm giảm khả năng bị
trúng đạn hỏng cả hai chiếc. Máy bay có thể tiếp tục hoạt động trong 30
phút từ khi hết nhiên liệu, cho phép phi công kịp thời hạ cánh ở một
chỗ an toàn, trong trường hợp đạn trúng thùng nhiên liệu. Buồng lái có
thể bảo vệ phi công khỏi đạn 12,7mm và mảnh đạn pháo 23mm. Ngay cả các
cánh quạt của hai chong chóng cũng có cơ cấu tự bảo vệ cho phép máy bay
vẫn có thể bay được trong trường hợp bị trúng đạn. Thùng xăng có cơ chế
tự hàn, phòng ngừa trường hợp đạn bắn trúng. Tất cả hệ thống của động
cơ được giảm nhiệt đến mức tối đa để tránh tên lửa tìm diệt bằng nhiệt
của đối phương.
Ka-50 còn có hệ thống thoát hiểm đầu tiên trên thời gian, cho phép phi
công thoát ra khỏi máy bay trong mọi độ cao và tốc độ: hệ thống phóng
phản lực K-37-800 được sản xuất bởi Công ty cổ phần Nghiên cứu và sản
xuất Ngôi Sao ở Mát-xcơ-va, được kết hợp với bộ cứu hộ NAZ-7M dùng hệ
thống dù PS-37A, cho phép trong trường hợp khẩn cấp tự động bắn phi
công ra (ở tốc độ từ 0 đến 350 ki-lô-mét/giờ, ở độ cao từ 0 đến 6000
mét).
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1280x1024. |
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1280x1024. |
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1024x768. |
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1024x768. |
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1024x768. |
 |
Ảnh đã được thu nhỏ. Vui lòng nhấn vào đây để xem kích thước thật 1024x768. |
Screenshot
 |
Hình đã được co lại. Bấm vào đây để xem đúng kích thước. Kích thước ảnh là 800x503. |
 |
Hình đã được co lại. Bấm vào đây để xem đúng kích thước. Kích thước ảnh là 1680x1050. |
 |
Hình đã được co lại. Bấm vào đây để xem đúng kích thước. Kích thước ảnh là 1280x960. |

 |
Hình đã được co lại. Bấm vào đây để xem đúng kích thước. Kích thước ảnh là 800x520. |
 |
Hình đã được co lại. Bấm vào đây để xem đúng kích thước. Kích thước ảnh là 1024x768. |
Tech Info
Published by: The Fighter Collection
Developed by: Eagle Dynamics
Release Date: April 7, 2009
Genre: Flight Simulation
Minimum System Requirements
# System: Windows XP SP2 / Vista;
# Processor Class: PIV 2 GHz;
# RAM: 1 GB;
# Video: 256 MB RAM, compatible with DirectX9;
# Hard Drive: 5 GB of free space;
# Keyboard and mouse.
Recommended System Requirements
# System: Windows XP SP2 / Vista;
# Processor Class: Core 2 Duo 3 GHz;
# RAM: 2 GB;
# Video card: ATI Radeon HD4850 + or nVidia GF 8800 +;
# Hard Drive: 5 GB of free space;
# The keyboard, mouse, joystick |
PhuyencD (Theo PhuyencD)
|